![]() |
| Áo trắng giờ tan học trước cổng trường Hoàng Diệu 1972 |
Thuở đó của tôi là khoảng năm 1968, con gái con trai còn học riêng. Lớp Đệ thất A2 gồm 56 đứa con gái. Tới giờ, nhắm mắt tôi vẫn đọc được vanh vách tên của cả lớp. Sở dĩ tôi nhớ họ tên, chữ lót của từng đứa vì tôi là trưởng lớp suốt mấy năm liền. Sức học của tôi chỉ vào loại kha khá, tụi nó bầu cho tôi vì thứ nhất tôi hơi lớn con, ngồi bàn kế chót quanh năm, thứ đến tôi thuộc dạng đầu têu, hay trêu hay cười nên có tôi lớp được ngợi, có chuyện để cười suốt. Ngồi cùng bàn với tôi mấy năm liền là Trần Ngọc Ánh, trưởng ban Xã hội Báo Chí, và Dương thị Hồng Thạch, lớp phó. Bàn trên có Lê Thị Thanh, trưởng ban văn nghệ. Bốn đứa tôi bị thày Tâm vào năm lóp 7 đặt tên Tứ bà la sát vì hay cãi lý với thày. Trong lớp còn nhiều nhóm nhỏ khác, kết hợp do ngồi chung bàn hay nhà ở cùng xóm, cùng đi về mỗi ngày như nhóm 5 con mèo gồm Bạch Thủy, Kiển, Mỹ Dung, Thu Oanh, Thu Vân luôn đóng đô ở bàn nhất. Trương Thị Diệu, Diệp thị Phấn và Huỳnh kim Hua cùng ở Lịch Hội Thượng. Nguyễn thị Hiền chung xóm với Lê thị Thanh Vân. Lý thị Kim Dung đi chung với Nguyễn thị Thắm và Trần Thị Vân. Xóm nhà lá thứ thiệt toàn mấy chế bự con như Lý thị Chan Tha, Trần Thị Nhiên, Châu Mỹ Hoàng …ngồi ngay sau lưng tôi. Trước mặt có Thu Hà, Diệp Mỹ Ngọc, Dương thị Mỹ. Còn dãy bên tay trái toàn người đẹp
Tăng thị Mai, Ánh Tuyết, Minh Nguyệt, Lệ Thúy, Hoài Lan, Tuyết Hạnh ….nhiều lắm kể không hết.Năm đệ Thất không có gì đáng nói vì mọi người mới vào Trung học, chưa thân thích vì hãy còn bỡ ngỡ nhiều với các môn học mới mẻ, với chiếc áo dài vướng víu những bước chân chưa biết e ấp, làm dáng. Tất cả đều để hết tâm trí vào những giờ toán với cô Vĩnh Trường dáng nhỏ nhắn, rất vui vẻ, chiều học trò hết cỡ, thường cô hay cho làm toán chạy nên chúng tôi hết sức hồi họp căng thẳng để hầu chiếm điểm 20 cho những cuộc chạy thi này. Cô Vĩnh Trường thường cùng cô Hoàng Oanh quê ở Kế Sách dạy môn Việt văn mặc áo xoa mầu hồng cam giống nhau đi dạy. Màu áo ngọt ngào làm cho bọn tôi ngẩn ngơ, thèm thuồng. Cô Tín phụ trách môn Anh văn, nét dung dị nhưng rất sang cả và khó tính nổi tiếng trong trường, học trò phần đông ngán cô nhưng đó là người tôi mê nhất mới lạ. Ngày đầu tiên vào lớp, cô đe rằng “Có biết bao trẻ không có cùng điều kiện tới trường lớp như các em mà phải lăn lóc ngoài đời tự kiếm cơm để nuôi thân hay nuôi gia đình. Cho nên nếu các em không ý thức được bổn phận của mình để cố công học tập thì đó là điều đáng tiếc và kẻ đó không xứng đáng được ngồi trong lớp này!” Dù sao đi nữa, tôi rất thích giờ Anh văn của Cô và tôi rất say mê nhân dáng của Cô nên khi nghe tin Cô mất tôi đã bàng hoàng thương tiếc cho người tài hoa bạc mệnh.
Giữa năm học,chúng tôi có thêm bạn từ lớp A1 sát bên cạnh. Trần Thị Hai và tôi trở thành đôi bạn thân thiết, đi đâu cũng có nhau. Bọn tôi thường đội mưa, dang nắng đi lang thang. Nếu cần cột hai vạt áo dài lại với nhau để leo cây hay rượt bắt, lội sình…chúng tôi chẳng từ. Thế nên năm lớp 6 kết thúc với 3 chiếc áo dài đều rách ngang lưng vì đi đứng vụt chạc, vì bị đứa khác dẫm lên hay vì rượt bắt vui quá nên hơi mạnh tay…? Sang năm đệ Lục, Thầy Trần Lộc dạy Toán, Thầy Dương văn Hiền dạy Anh văn, có Thầy người Mỹ tới dạy mấy lần, làm cho bọn tôi khiếp vía. Thày Mỹ này vô lớp xí xô xí xào, một mình nói một mình nghe. Tụi tôi mãi bận quan sát thày đâu còn tâm trí (chưa nói tới khả năng) để hiểu thày nói gì. Thày gọi nhỏ Lê Kim Hoàng lên đứng trước lớp đọc bài. Hoàng cầm cuốn sách lên bảng, xoay mặt lại chưa kịp đọc chữ nào thì thày lại đứng sát bên cạnh nó, con bé bối rối nhích ra xa, thày cắc cớ đi theo. Hai ba lần luống cuống hết qua trái rồi qua phải, con bé te tái đi về chỗ ngồi, khỏi đọc luôn. Bọn chúng tôi cười thì cứ cười nhưng cũng kinh hoàng sợ tới phiên mình có mà trời cứu.
![]() |
| Trên đường đến trường |
Thầy Tâm đến mang theo một luồng kình phong làm ảnh hưởng rất mạnh tới đời sống tinh thần chúng tôi vì phong cách dạy học khác thường. Chúng tôi không học theo chương trình giáo khoa như các lớp khác mà theo kiểu tùy hứng của thày. Tôi còn nhớ chính tả của thầy thường là những bài văn xuôi thầy lượm lặt đâu đó mà cách hành văn rất mới mẻ, biểu hiện cuộc sống trước mắt … chẳng hạn như câu chuyện về một công chức ngày hai buổi đi về còm cọm, rồi một hôm phát hiện ra mình đau bao tử, rồi đau gan, rồi ò í e… Nhóm chữ ò í e từ đó lan truyền trong bọn tụi tôi thay cho động từ chết, mất, hay qua đời. Mới mười hai, mười ba tuổi, bọn tôi đã thuộc làu thơ Quang Dũng, Yên Thao, Huy Cận, Xuân Diệu, Hữu Loan…Thày dạy luôn cả anh Bình của tôi, lớp đệ Tam thời bấy giờ với cùng phong cách nên mỗi lần Thày quay bài roneo cho lớp anh tôi, còn dư lại Thày đem phát cho bọn tôi để… rộng đường dư luận. Tôi còn nhớ Thày hay bút chiến với thày Tòng, tác giả bài Bàn chân người con gái mà tụi tôi phải đọc trong giờ văn xuôi. Thày Tòng khen Đôi mắt người Sơn Tây của Quang Dũng hay, thày Tâm nói “để tôi vác dao đi tìm QD” Cách nói lơ lững của thày làm Thày Tòng bất bình nên viết nên một bài ai oán cho rằng vì lời khen của thày mà QD có khi phải rơi vào tay…đồ tể. Thày Tâm lại phải viết đáp lại một bài phân trần; đó chỉ là cách nói mổ xẻ để xem thi tài của QD mà thôi. Các thày bút chiến với nhau thì tụi nhỏ chúng tôi có thêm nhiều giấy để hôm nào trời mưa không ra sân chơi được, chúng tôi rủ nhau xếp thuyền thả trôi trên những đường nước nhỏ chảy từ máng xối xuống đọng lại thành vũng trên lối đi. Thày dạy chúng tôi cách viết chính tả bằng phương pháp truy nguyên. Lâu rồi nên tôi quên, chứ hồi đó tôi rành sáu câu vọng cổ. Cái gì mà dùng môi, răng, cúa ,màng cúa để phân biệt “từ kép điệp âm đầu” với bằng bằng trắc trắc. Giờ chính tả lúc nào tôi cũng lủm điểm 20. Môn văn của thầy tôi cứ về nhất. Thi đệ nhất bán niên, Thầy ra mẹo một câu “Thơ lục bát có dùng vần bằng không” và tuyên bố đứa nào trả lời đúng câu này là đứa đó thông minh.
![]() |
| Một góc lớp học 1972 |
Câu hỏi dễ ợt. Cả lớp đều viết xuống “Có.” Riêng tôi trả lời “Chỉ dùng vần bằng” Ngày phát bài Thày nói lớp này chỉ có mình con Hương thông minh. Có thiệt hay không tôi đâu cần biết. Chỉ biết tôi khoái thầm trong bụng là đủ rồi. Cuối năm tôi lại được thày tặng cho cuốn Văn chương tranh đấu miền Nam của Nguyễn văn Sâm với lời đề trang trọng “Tặng Đệ nhất văn chương Trần Thu Hương”. Trời ạ, cuốn sách dày cỡ gang tay, với trình độ của đứa con gái nhỏ mới mười hai tuổi, tôi khuân về nhà mà ngơ ngẩn không biết phải làm gì với nó dù tôi rất tự hào mình thuộc loại mọt sách. Anh Bình tôi đoán già đoán non “chắc thày nghèo không còn gì ngoài sách nên mày mới ngáp được cuốn này” Báo hại mấy ngày sau đó tôi cứ gia công đọc lấy đọc để coi mấy ổng nói cái gì có mà phòng hờ thày hỏi tới thì hoạ may cũng biết trả lời cho đỡ mất mặt bầu cua. Hơn 35 năm sau gặp lại, thày quên tôi tuốt luốt, nhưng khi tôi nhắc thày có tặng tôi quyển sách đó thì Thày khựng lại “chắc là em phải giỏi thiệt tôi mới tặng em cuốn đó à nhe” Một lần nữa, tôi không thèm biết mình giỏi thiệt hay giỏi giả, tôi ngấm ngầm khoái chí, nhất là trước mặt nhỏ Ánh, bạn thân của tôi và là vợ của tác giả tai hại Nguyễn văn Sâm này. Thầy Tâm không kiểu cách, không thích thưa gửi, khi trả bài cứ việc ngồi tại chỗ nói oang oang, thày chả phiền hà gì. Tụi tôi còn nhỏ, bản tính hiếu động, ưa chuộng cái gì đi ngược lại với lề lối, qui cũ nên rất ư là thích thú với phong cách phóng khoáng quái gỡ của thày, thậm chí có đứa được trớn lại đâm quá đà nên có khi bị ăn hột vịt muối cả khạp. Thày làm bộ phạt vậy thôi, hôm sau lại xóa bỏ rồi thày trò hệch hạc cười với nhau. Cũng vì cung cách hệch hạc, thày bị rắc rối với ban Giám Hiệu, sau đó thày đổi về Sài gòn. Tôi học ở thày kiểu phát âm các chữ “nên, hết” mà phần lớn người miền Nam không để ý nói cho đúng. Thày chỉ dạy một năm nhưng ảnh hưởng tới cả cuộc đời chúng tôi trong khuynh hướng thưởng thức văn học, nghệ thuật. Có lần nhân ngày lễ, thày dẫn đám con gái nhỏ đi chùa Dơi tham quan. Sau chuyến đi lý thú, thày bày cho chúng tôi làm báo giống như các anh chị lớp lớn để viết lên cảm nghĩ của những đứa con gái ngây ngô nhưng rất ư là dễ thương. Thày đặt tên tờ báo Hoa học trò, bọn tôi tưởng mình ngon lắm, gân cổ chê nghe sao cải lương quá, thày nói còn đỡ hơn hoa mõm chó.
Thày Tòng còn viết bài “Hắn” để mô tả thày Tâm đi dạy quanh năm lẹp xẹp với đôi dép mòn mỏng dính có thể dùng để làm dao cạo cho bộ râu quai nón của một đồng nghiệp cùng trường. Người bị ám chỉ đó là thày Điền Chi, dạy môn Vạn vật, nội cái tên cũng đủ mường tượng ra nét mặt na ná người Nhật của thày. Thày chạy chiếc Suzuki đen xì, chắc hết tiền đổ xăng triền miên hay sao mà rất thường hay ngừng lại, nghiêng bình xăng lắc lắc, vỗ vỗ trước khi tiếp tục vô số rồ ga.
Lên đến năm lớp Tám ( không còn gọi đệ ngũ như trước), chúng tôi học văn với thày Tháo. Thày nho nhã, giọng hơi khàn, rất nhiều khả năng thu hút người nghe, nhưng lại khốn khó, lao đao cho bọn tôi vì phải trở về lề lối cũ, phải học bài thuộc lòng, phải bình luận thơ văn đúng cách chứ không được quyền phát biểu theo ý riêng của mình. Ngày đầu tiên thày hỏi bài, con nhỏ bạn quên đứng lên nghiêm chỉnh trả lời. Thày nhắc “Em đứng lên” làm cả lớp bật cười khan vì tưởng tượng nếu chính mình bị gọi. Phải mất một thời gian dài tụi tôi mới khép mình lại với kỷ luật học đường và khuôn khổ học hành thời đó.
Cũng năm này, lớp tôi được thày Hoàng việt Sơn phụ trách môn Anh văn. Thày đã dạy chúng tôi thứ văn phạm chính thống của người Anh mà mãi về sau khi tôi lên Sài gòn học chuyên sinh ngữ ở Hội Trí thức yêu nước, những bài thi viết của tôi đều được chấm điểm cao do khả năng văn phạm của tôi khá vững vàng. Khi ấy tôi mới nhận thức được sự may mắn của mình và đó cũng niềm hãnh diện cho trường nói chung.
Thày Thu dạy Vạn vật cao khẳng khiu, tay dài ngoằng, mặt khó đăm đăm trông rất ngầu, lúc vào lớp cũng đeo cặp kính đen. Nhưng thày cưng tôi, tôi nói gì thày cũng cười, cũng bỏ qua, còn con nhỏ bạn tôi thì bị phạt đuổi ra khỏi lớp. Nó càu nhàu “chắc tại mày giống vợ Thầy” (Thày góa vợ!!!)
Tôi cũng bắt đầu biết đến lớp 8A3, bọn con trai cạnh lớp tôi. Mọi chuyện bắt đầu từ mấy cây chổi. Thời đó học sinh phải chia thành từng toán để thay phiên mỗi ngày quét lớp, lau bảng, giữ vệ sinh sạch sẽ trong lớp. Quay đi ngoảnh lại là mất toi mấy cây chổi, chúng tôi tức chết được nên để ý rình xem ai ăn cắp mất chổi của lớp. Thì ra thủ pham chính là mấy anh chàng láng giềng, mấy chàng đi học sớm để thủm chổi của lớp tôi. Bọn tôi chẳng vừa gì, cắt cử vài đứa ở lại sau khi tan học để cướp lại chổi mình và đem giấu trong lớp A1. Ha ha, ngày hôm sau vào lớp một bài thơ viết trên bảng đen to tổ bố mà tôi còn nhớ rất rõ.
![]() |
| Ảnh minh họa |
Đã mang tiếng những thư hùng
Đừng nên ăn cắp chổi thùng làm chiĐể cho lớp 8 khinh khi
Thanh danh của lớp còn gì …bạn ơi!!!
Ôi, đúng là vừa ăn cướp vừa la làng, tụi tôi cười gần chết vì bài thơ bất hủ đó. Nhưng cũng nhờ những xô xát nhẹ nhàng ấy mà chúng tôi lần lần kết giao, trở nên bạn thiết hồi nào không hay và giữa hai lớp cũng có những mối tình vang vọng một thời. Ở đó tình cảm của đứa con gái mới lớn đã rung động vì ánh mắt si dại của một anh chàng hiền lành nhưng nổi tiếng bụi để rồi thành một dấu ấn đậm trong tôi cho đến hôm nay.
Sang năm lớp 9, chúng tôi đã lớn, chuyển sang học buổi sáng. Áo dài bây giờ không còn là nỗi khổ mỗi khi đến trường. Chúng tôi để ý chọn hàng tơ lụa bóng loáng chứ không chuộng vải ka tê. Sau này có đứa thú nhận với tôi “Hồi đó thấy TH mặc áo dài tơ, K phải chơi hụi để dành tiền mua vì má không sắm cho” Dãy lớp 9 của chúng tôi nằm cách Miếu Bà Hỏa cái ao đầy bông lục bình tím và bèo xanh. Trường mở lối đi tráng xi măng nhỏ dẫn thẳng từ cổng vào. Sau tiếng chuông vào học, vô phúc cho đứa nào đi trễ, bước chân sẽ trở nên cứng ngắc, lọng cọng vì tất cả học sinh đứng xếp hàng đông nghẹt trước cửa lớp thường “địa” vào mục tiêu này. Tôi đã là một nạn nhân trong số ấy. Lần đó, sau khi vào lớp tôi mới nhớ ra mình chưa mang sổ điểm danh cho giáo sư nên vội vàng phóng lên văn phòng. Vừa bước ra khỏi lớp, tôi hết hồn khi thấy lớp 9A4, vẫn còn nhốn nháo ngoài hành lang chờ giáo sư. Không lẽ lộn trở lại tay không, tôi bậm gan bước ngang đám con trai, đứa huýt sáo, đứa hò hét, phần đông hè nhau kêu tên tôi “Trần Thu Hương … 1,2,3,4…” To tiếng nhất là Võ thanh Phương, con thày Thiên. Ngoài mặt tôi giả vờ tĩnh tuồng chứ thật ra trống đánh thùng thùng trong bụng. Nói dại nếu lỡ vấp té một cái chắc tôi bỏ học đi ở đợ luôn chứ nhất quyết không trở lại trường. Tôi ráng lết đến văn phòng, thày Trần Lộc đang đứng chống nạnh hỏi “Tụi nó chọc em phải không?” Tôi chưa kịp hoàn hồn thì thày phăng phăng bước về hướng tụi nó và …bắt cả lớp quì gối với tội chọc gái. Tôi kể lại chuyện này vì hôm rồi tôi về VN, trong buổi họp mặt, Trần Minh Đức có nhắc lại “mối hận lòng” với nụ cười hiền hòa, thân thiện.
Chúng tôi học Sử Địa với thầy Liêu Khên, thày hay đệm tiếng “nghĩa là”. Cả lớp kháo nhau thủ sẵn tờ giấy và cây bút chì, thi nhau gạch và đếm xem hết một giờ học thày sử dụng bao nhiêu nghĩa là. Thày hiền lắm nhưng có lần cũng phát cáu vì tụi học trò ranh mãnh truyền nhau đề thi gian lận. Hồi đó tôi chỉ thấy thày giận dữ nhưng bây giờ nhớ lại tôi biết thày thất vọng và buồn. Mong rằng thày tha thứ cho tuổi nhỏ khờ dại của chúng tôi. Thày Trần Kiều Sanh dạy Anh văn, lúc nào thày cũng chải chuốt và có nét hao giống như tài tử Khương đại vệ của màn ảnh Trung Hoa thời bấy giờ. Thầy dễ dãi với học trò nên giờ học lúc nào cũng vui nhộn, thoải mái.
Ở lớp 9, thày Phan Quang An là giáo sư quốc văn của bọn tôi, thày rất hiền, giảng bài giọng đều đều. Chúng tôi bắt đầu học thuộc lòng Kẻ sĩ của Nguyễn Công Trứ, rồi tập tành làm mưỡu, làm thơ đường luật noi gương yêu nước của tiền nhân. Ánh và tôi sau mấy lần bình thơ lại bắt đầu giở quẻ ăn đằng sóng nói đằng gió “đêm khuya khi mọi người chổng cẳng ngáy pho pho, chỉ có mình ngài NCT thao thức nghe tiếng quốc kêu não nề não nuột..” Thầy đọc bài bình giảng của bọn tôi, cố giấu nụ cười vì những lời tán hươu tán vượn có tính cách trào phúng mà bọn tôi cố tình lộng giả thành chân. Thỉnh thoảng Thầy cho tụi tôi làm thuyết trình với đề tài tự chọn. Về điểm này thày chắc hài lòng vì khi tụi tôi lên trước lớp nói chuyện cũng trông cũng chỉnh tề lắm, chứ không nghịch ngợm như thường lệ.
Tôi suýt quên bẵng thầy Thừa, chúng tôi kêu lén thầy Dư thiếu Thừa, thày hiền như Phật, nhưng ông Phật này ốm nhom. Thầy dạy Lý hóa và là vua mẹo của bình phương, của những bài toán rất kỳ thú. Tới bài ròng rọc, chúng tôi lại tinh nghịch “ ròng rọc còn có tên rỏ rẻ, kéo nghe rột rột.” Mặc chúng tôi quậy, thày lúc nào cũng điềm tĩnh giảng dạy tận tình. Sau mỗi một bài toán khó thầy thường khoan khoái búng viên phấn cái vèo làm mấy em ngồi bàn đầu giật mình, né. Có lần tôi tháp tùng nhóm anh Mã thành Long tới thăm chúc vui Thầy ngày Noel, lúc bấy giờ thầy đang ở trọ căn nhà sau lưng trường Hoàng Diệu, đường vô vườn ông Ba Khâm, thầy hơi thắc mắc tại sao các em đạo Phật lại ăn mừng Thiên chúa giáng sinh. Và tôi chắc rằng đa số chúng ta vẫn nhớ rõ về thầy, khi thầy kinh ngạc, thầy giương mắt tròn xoe, nhìn trân trối, không nói nên lời, trong lúc chúng tôi ra sức thuyết phục tại, vì, bị…
Hè năm lớp 9, chúng tôi khám phá con đường Giao Hạ nhờ mấy lần đi tập diễn hành gần dinh Tỉnh trưởng. Khúc đường rất ngắn, chạy từ hông dinh ra đường Trần Hưng Đạo, rợp bóng hai hàng phượng lá xanh, hoa đỏ đan vào nhau. Bóng mát thu hút bọn tôi tha thẩn nhặt cánh phượng rơi cứ y như trong thơ nhạc. Lúc đầu vì con đường này là nơi cư ngụ của các ông lớn trong tỉnh nên mấy chú gác cổng xua “Các cháu đi chỗ khác chơi.” Mấy con khỉ cứ phải lỳ mặt, nhe răng cười duyên mãi các chú mới làm lơ cho bọn tôi lê la, vắt vẻo dưới mấy gốc phượng già giữa trưa nắng chang chang hay đạp xe loanh quanh mà mắt thì cứ ngước nhìn lên cành phượng trên cao như thể với tay thì sẽ hái được mấy vần thơ vương vãi trên ấy. Bây giờ con đường vẫn im nằm đó, hôm tôi về cũng vài lượt đi qua để nghe lòng lâng lâng, ngậm ngùi nhớ lại quãng đời thơ ấu tuyệt vời nhất của tôi, và cũng để nhớ lại mấy câu thơ rất lãng mạn mà anh chàng nào đó đã viết tặng cho đứa bạn tôi khi nghe tả về con đường này.
![]() |
| Con đường Giao hạ 1972 |
Em có về qua con đường Giao Hạ
Ngắt dùm anh vài cánh lá phượng xanh
Viết yêu thương trải đầy trên trang lá
Dù tình sầu làm héo úa tim anh!
Thu Hương








Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét