Quê hương ST

                         TẢN MẠN SÓC TRĂNG


     
     Còn những con đường, những dòng sông thì ta mang trả cho ai và gửi về đâu?
      Khi có tuổi người ta hay hoài cổ và thương nhớ một cái gì đó xa vời, nhịp sống hiện tại, từng ngày, từng ngày chuyển mình như vũ bão, nhưng sao chúng ta muốn giữ mãi một vài điều thuộc về xưa cũ, nó không ảnh hưởng gì, nhưng nhiều khi không còn có ích nữa, một tấm ảnh trắng đen nhạc nhòa, một lá thư, cánh thiệp úa vàng. Có thể một ngày đẹp trời nào đó mang đến trao lại cho chủ nhân của nó, để đó cũng chẳng sao, có thể một ngày chúng ta nhìn nó sẽ không còn cảm giác nữa. Đó là những thứ đồ vật, hiện hữu, ta có thể nhìn thấy, cầm nắm nâng niu, còn những kỉ niệm tồn tại trong trí nhớ của ta, trái tim ta, những con đường, những dòng sông thì ta mang trả cho ai và gửi về đâu?
      Thật dong dài khi bắt đầu muốn nói một điều gì đó, những con đường, những dòng sông và còn nhiều thứ nữa quấn quít quanh đây. Những người từng sống ở Sóc Trăng là cả một khung trời kỉ niệm tuổi thơ êm đềm trôi qua với họ. Tôi đọc quyển sách của Cụ Vương Hồng Sển về một những con đường, phố chợ Sóc Trăng một thời xa xưa nghe là lạ, ấn tượng. Đó cũng là niềm xúc cảm, tôi hồi tưởng viết những dòng nầy, nhớ lại những con đường, nhớ những cây cầu mình từng đi qua, nhớ dòng sông tắm mát và nhớ những người quen biết xa xưa…
      “Lúc ô tô chưa ra đời, thì con đường Đại Ngãi, khúc nối liền chợ Sóc Trăng ra chợ Văn Cơ ( Trường Khánh ) là đông người lai vãng và vui vẻ nhứt. Đường nầy thuở ấy đã được trải đá xanh bằng phẳng, hai bên đường trồng cây tràm lá xanh lơ thơ như liễu, mỗi cơn mưa tạnh hương hoa tràm tỏa ra thơm ngây ngất nhẹ nhàng, chiều chiều ông Tây bà đầm người nào thể thao thì tự cầm cương xe độc mã thùng bằng mây đan, người nào đài cát thì chểm chệ ngồi xe song mã, có phu xe cầm cương tróc roi nạt đường”. Đoạn mô tả trên của Cụ Vương Hồng Sển có thể vào những năm 1920 – 1930, đúng là một con đường dành cho giới quý tộc một thời xa xưa. Thời chúng tôi con đường nầy rợp bóng mát, hai bên là tre trúc, ít xe qua lại, thanh vắng. Những ngày đi học, có tiết nào Cô Thầy vắng thì cả bọn rũ nhau lang thang trên đoạn đường nầy, không đi xe đạp, xe máy hoặc đi xe ngựa như thời xa xưa, chúng tôi đi bộ vòng quanh các ngỏ vào trong xóm, ôi! toàn là tre trúc rợp mát cả lối đi. Thường chủ xướng các buổi đi chơi là các bạn nữ và cũng chắc có lẻ là các bạn nữ mới có đủ văn vẻ đặt tên cho con đường nầy là “ Con đường Thanh Trúc”, nghe sao thanh tao mà nên thơ quá. Con đường nầy ghi nhận biết bao nhiêu cuộc tình học trò ngây ngô dễ thương, có người mang con đường nầy qua tận xứ Mỹ để mà ngồi nhắc nhớ, thông thường chỉ người trong cuộc, mới hiểu con đường nầy là con đường nào.
      Sóc Trăng một thời tên gọi là Khánh Hưng thuộc Ba Xuyên, giai đoạn lịch sử bắt đầu thời đó có tên gọi là nền đệ nhất cộng hòa, lúc bấy giờ chính quyền sở tại bắt tay vào kiến thiết tỉnh lỵ, trong những công trình cần thiết có khu thư giản dạo mát cho công chức và nhân dân, từ đó khuôn viên Hồ Nước Ngọt được xây dựng. Tuy nhiên có giai thoại kể lại, vào năm 1959 ông Hoàng Mạnh Thường, tỉnh trưởng Ba Xuyên bấy giờ là một người Thừa Thiên. Xa quê hương, nổi nhớ dạt dào, ở Sóc Trăng nhưng tâm hồn lúc nào cũng gởi về xứ Huế. Từ đó, nên ông đã cho xây hồ Tịnh Tâm theo nguyên mẫu hồ Tịnh Tâm trong Đại nội, Huế. Hồ được xây trên khoảng đất ruộng trống, diện tích hồ chừng hai hecta, khởi công đào bằng sức người, cuối năm 1960 thì hoàn thành. Thời đó những nhân công tham gia đào hồ được trả tiền công sòng phẳng, con đường rộng đi vòng theo bờ hồ chừng 400m, hai bên là hàng hai dương liễu, có các ghế đá để ngồi hóng mát, giữa hồ là ngôi nhà thủy tạ có cây cầu bắt qua tạo khung cảnh rất thơ mộng. Mặc dầu có tên là Hồ Tịnh Tâm nhưng người dân địa phương đa số gọi tên là Hồ Nước Ngọt. Về vấn đề nầy các bậc cao niên kể lại, thuở xa xưa người dân tại Sóc Trăng muốn có nước ngọt phải dùng ghe chài chở nước từ Đại Ngãi mang về mà dùng. Bởi vậy có câu thơ xưa người ta ngâm nga:
    “Đất Sóc Trăng quê mùa nước mặn
     Tôi ra Vàm Tấn chở nước về xài”
( Vàm Tấn tên gọi Đại Ngãi thuở xưa ). Thời thập niên 60 vấn đề cung cấp nước ngọt cho người dân toàn tỉnh lỵ là cần thiết, do đó ngoài chức năng là nơi vui chơi thư giản, Hồ Tịnh Tâm còn là hồ chứa nước ngọt thông qua một kênh đào dẫn nước ngọt từ Kế Sách về, từ hồ nước ngọt nước được bơm lên dự trữ ở hai hồ lớn của Nha cấp thủy. Sau khi lắng lọc làm sạch nước được cung cấp thông qua đường ống dẫn đến nhân dân để xài. Bởi vậy người dân Sóc Trăng quen gọi là Hồ Nước Ngọt cũng chính là nguyên nhân nầy.
     Đối diện hồ Tịnh Tâm là Trường tiểu học Tịnh tâm, bên cạnh đường là bến xe Cần Thơ, từ bến xe Cần Thơ có con đường đi lên Cầu Thiên Hộ qua khu vực chợ Sóc Trăng. Cây cầu nầy làm bằng sắt lót gỗ có độ dốc cao để thuyền bè lớn đi ngang không bị cản trở. Xe đi ngang cầu được điều khiển bởi một người gác bằng tấm bảng xoay qua xoay lại ở giữa cầu. Trước năm 1965 các xe đò Coach, xe tải còn qua lại cầu nầy được, thời gian các song gỗ hư không được thay thế hay tu bổ, xe qua lại rất nguy hiểm, nên sau này chỉ có xe gắn máy, xe đạp và người đi bộ qua lại cây cầu nầy. Đứng giữa cầu nhìn xuống nước cảm thấy run chân vì cầu quá cao. Hồi thời tôi còn nhỏ đã nghe trong giới học sinh đàn anh đàn chị nói đi nói lại hai câu thơ, ý nghĩa mượn độ cao của cầu Thiên hộ để nói lên nét mỹ miều dễ thương của con gái Ba Xuyên
      Cầu nào cao bằng cầu Thiên hộ
      Gái nào ngộ bằng gái Ba Xuyên
      Sau nầy các bạn tôi ( học sinh Hoàng Diệu ) ứng dụng hai câu thơ nầy tùm lum, nhiều nơi qua các trường khác, đôi lúc cũng bị các cô phản phé lại, ví dụ như:
      Trai nào điên bằng trai Hoàng Diệu
      Gái nào điệu bằng gái Ba Xuyên
      Do cầu bị hư hỏng trầm trọng, vào cuối thập niên 80 sang 90, cầu dở bỏ hẳn và thay thế bằng một cầu bê tông thấp hơn nhiều, tên cầu Thiên hộ bị xóa sổ từ lúc nầy.
      Dòng sông Maspéro xuyên qua tỉnh lỵ qua hai cây cầu, cầu Thiên hộ và Cầu Quay, sông chảy đến Đại Ngãi ra sông Hậu rồi đổ ra biển. Cây cầu quay làm bằng sắt cũng được lấy tên Maspéro,(Maspéro một nhà địa chất học người Pháp), mỗi sáng quay sang một bên cho ghe tàu lớn đi qua. Năm 1968 cầu bị hư hỏng nặng, sau đó được sửa chữa lại nhưng cố định luôn không còn quay được. Sau nầy giao thông đường bộ phát triển mạnh, cây cầu nầy được thay thế bằng cầu bê tông cho tới bây giờ. Dọc theo bờ sông phía bên trường Dục Anh là dãy nhà thủy tạ lúc nào cũng nhộn nhịp đông vui nhất là buổi chiều. Các nhà thủy tạ thời đó đa số là quán nhậu, quán ba số bảy trước bán ở nhà thủy tạ sông Cầu bon, bị dở bỏ nay cũng dời về đây. Ngồi trong các nhà thủy tạ nhìn xuống dòng sông, nước trôi lững lờ mang theo các mảng lục bình tản mạn, chiều chiều các cô gái áo lụa, tóc dài dạo mát trên bờ sông, khung cảnh thật đẹp, nên thơ Bởi vậy các tay nhậu thời đó đa số là các bậc thanh tao tài tử, uống vài cốc nhìn xuống dòng sông rồi nhìn lên bờ xuất khẩu thành thơ ngay.
      Cầu quay nước chảy lững lờ
      Dưới sông cá lội trên bờ mỹ nhân
      Hồi đó đi theo các bậc đàn anh lính tráng, tôi không tập được chất thanh tao tài tử mà tập được tính liều mạng. Cũng là kỷ niệm của con sông Cầu Quay, hôm đó một ngày đẹp trời bọn tôi không có đi học, ba đứa tôi,Thành và Trung ngồi quán cà phê cạnh bờ sông phía đầu Doi, bên kia sông phía nhà máy Quách Sên là nhà cô bạn cùng lớp. Từ bên nầy sông nhìn qua bên kia, góc nhìn rộng không chướng ngại vật, thấy rất rõ, nhưng từ sáng đến giờ đã hai tiếng đồng hồ trôi qua, sao không thây cô ta ra khỏi nhà. Cái quán nầy mỗi sáng Chủ Nhật ba đứa luôn ngồi đây như chờ đợi điều gì nhiệm mầu, trời không phụ người hiền, thời may bên kia sông một một tà áo tím xuất hiện với cái thau đồ đi về hướng cái cầu mé sông.”Cô ta ngồi giặt áo ở bờ sông”, nghe như giống cải lương nhưng mà chuyện có thiệt. Đây là khu vực nước đổ ra ngã ba sông, nên nước chảy siết rất nguy hiểm, không biết gì động lực nào tôi liều mạng nhảy xuống sông lội qua bên đó, nhưng còn do dự rũ thêm thằng Trung cho vửng tinh thần, nó chìu tôi, Thành thì ở trên bờ giữ đồ. Cũng ráng lắm muốn đứt hơi tôi và Trung mới lội qua tới bển, hai thằng cà chói dưới nước rối ngóc đầu lên gần cái thau, làm cho cô ta một phen la lên tá hỏa, tôi nói dưới nước anh yêu em, nhưng sợ quá tưởng là thủy quái chắc cô ta chẳng nghe được gì. Hôm sau vô lớp học, xấu hổ tôi cũng chẳng dám nhìn cô ta. Thời gian trôi qua đã lâu, chúng tôi đều tóc bạc, thường gặp nhau, nhưng biết có ai nhắc nhớ chuyện cỏn con ấy làm gì, tôi ....ngày ấy bị cá mập cắn, chắc không còn ngồi đây để kể lể những dòng nầy.
        Chuyện sông Cầu Quay của tôi chỉ thế thôi. Hôm nay ngồi lai rai với anh Hợp vài chai bia, anh huyên thuyên kể chuyện tuổi thơ tắm sông Cầu Bon, tôi hơi ngạc nhiên, vì lúc tôi biết nó đã quá cạn. Theo anh Hợp nói sông Cầu Bon ( Point ) là kênh đào dẫn từ Bải Xàu về Sóc Trăng đến đầu Voi để ra sông cái. Những thập niên 50 dòng sông sâu nước chảy thông thương, nên anh Hợp nhảy xuống đó tắm là chuyện thường, sau này dòng sông hẹp, không sâu, con nước lớn tàu ghe ra vào thông thả nhưng nước ròng thường bị mắc cạn nhất là đoạn vào khu vực dãy vựa xuyên qua tỉnh lỵ. Dọc bờ sông, một bên là dãy vựa trái cây, đầu mối từ các vườn trái cây trong huyện, kế đến là hàng dừa thẳng tấp gần cuối đường là Trường dạy đánh máy Lý Anh tồn tại rất nhiều năm, dọc bờ sông có các nhà thủy tạ để ngồi hóng mát. Đối diện với các nhà thủy tạ bên kia sông là khu công viên có các cây dầu cao, có các băng đá để người ta ngồi hóng mát, hai bên lối đi có các cây hoa kiểng, lối đi không tráng xi măng hoặc lót nhựa, mà phủ bắng loại đất đá bazan màu đỏ, giữa khu công viên có cây cầu tuột dành cho trẻ em vui chơi, thời ấy tôi ít thấy người ta ra đây ngồi chơi, giữa công viên khoảng trước tòa án chúng ta sẽ gặp ngay tượng hai hình nằm trên một trụ bệ xi măng. Đây là tượng của hai người lính lê dương bằng đồng, nguồn gốc có lẻ từ bên Pháp mang qua. Sau nầy lúc tôi biết thì chính quyền sở tại cho đóng khung sắt bao quanh hai lính lê dương và trang trí bên ngoài bằng các khẩu hiệu tuyên truyền, do đó tượng đồng hai hình tồn tại đây rất nhiều năm, nhưng nhiều người không biết. Về cái tượng đồng hai hình xin đính chính lại nó không phải bằng đồng, vì sau 1975 ai đó kéo nó xuống đưa về cho ngành văn hóa quản lý, kẻ xấu dùng cưa và búa đập lấy đồng đi bán, tượng bị cưa mất cánh tay, đập bể đầu, xứt trán, không nguyên vẹn, nhưng khốn nổi tượng làm bằng gang nên kẻ xấu đã dừng tay, hiện nay không biết người ta di chuyển tượng hai hình về đâu.
     Giữa khu tòa án và dinh tỉnh trưởng cách nhau một con đường, con đường nầy trồng nhiều cây phượng rợp bòng mát, về mùa hè phượng nở đỏ rợp một góc trời, trông lãng mạn lắm, cánh dân học sinh Hoàng Diệu thời chúng tôi đặt tên cho con đường nầy là”Con đường giao hạ”. Chắn hẳn ai là học sinh vào thời đó cũng có ít nhiều kỉ niệm về con đường nầy.
      Dọc bờ sông đối diện dãy vựa là hàng dừa, khu vục nầy là bến xe cự ly gần như Sóc trăng đi Bải Xàu, Sóc Trăng đi Nhu gia, Dù Tho.....gần bến xe là ty quan thuế. Bến xe ở đây có 2 loại xe, xe lam và xe du lịch nhiều nhất là loại xe Peugot 203 và Traction. Gần nhà tôi ở, tôi có quen chị Ngân học trên tôi mấy lớp, chị đẹp người, tiếng nói rổn rãng, mạnh dạn, hay thu phục mấy đứa nhỏ như tôi làm đệ tử, nhà chị có chiếc xe Traction của ba chị chạy đường Sóc trăng Bải xàu, do quen với chị, tôi đi xe được ba chị không lấy tiền, xe ngồi rất êm. Xe đi qua Bải xàu bằng 2 tuyến, đường Phan Thanh Giản gọi là đường Bải Xàu trên, đường Nguyễn Bỉnh Khiêm gọi là đường Bải Xàu dưới, đường Bải Xàu dưới rất xấu khoảng năm 1970 thì xe thôi chạy.
        Con đường Trần Hưng Đạo thẳng Hai Bà Trưng đến Nguyễn Huỳnh Đức, sáng chiều đầu giờ vô học và cuối giờ tan học trải dài những tà áo trắng nữ sinh trông rất nên thơ đẹp mắt. Thập niên 60, 70 học sinh thường đi bộ, mặt dầu đoạn đường đến lớp có khí đến ba bốn cây số. Khu vực Hai Bà Trưng là khu buôn bán tập trung sầm uất, giới tài phiệt thời ấy có thể đề cập đến Cô Nam Mỹ, Cậu Mười Đởm là đầu đàn trong giới buôn bán vàng bạc; tại Khánh Hưng giới người Hoa buôn bán liên kết thành hội đoàn, bầu ra bang trưởng để điều hành tương trợ, khuếch trương kinh doanh, thời ấy người ta hay nói đến ông bang Vĩnh Xuyên có ảnh hưởng lớn ở thập niên 60, 70, ngành kinh doanh lúa gạo người ta hay nhắc đến ông Hùynh Tấn Truyền ở Bải Xàu có ảnh hưởng cả khu vực miền tây..Một nhân vật nổi tiếng trong giới điền chủ của những thập niên 30,sau này vẫn còn dư âm gọi là dân giàu xưa, đó là bà phủ An, có căn nhà lớn như một tòa dinh thự, nằm gần nhà lồng chợ kế rạp hát Thuận Hóa. Sở dĩ gói bà phủ An vì bà là quả phụ Đốc phủ sứ Lê Văn An, ông phủ An mất sớm bà quán xuyến sự nghiệp trở thành người giàu nhất miền tây thời bấy giờ với hàng ngàn mẫu đất nằm bên bờ kinh xáng làng Hòa Tú
      Con đường Trần Hưng Đạo chạy thẳng về hướng Bạc Liêu là bến xe Bạc Liêu rồi đến khu vực sân bay, dọc hai bên đường là khu hành chính công sở như tòa hành chính, ty quan thuế, nhà băng, ty điền địa, ty kiến thiết. …Đặc biệt trên con đường nầy có ngôi nhà hình tròn nhỏ xinh xắn là thư viện tồn tại rất nhiều năm, sau nầy đến thập niên 90 người ta mới dở bỏ và xây một thự viện mới.
      Trên đoạn sông Cầu Bon có ba cây cầu: Cầu Thuận Hóa đi từ lò bánh mì Nam Đô qua dãy vựa và rạp hát Thuận hóa, cầu bon nối liền đường Trần Hưng Đạo với Hai Bà Trưng, trước khi xây cầu Thuận Hóa đã có cây cầu đỏ gần đó đi qua dãy vựa, sau khi làm xong cầu Thuận Hóa người ta dở bỏ cây cầu đỏ. Cuối cùng là cầu giải phóng nối liền phố chợ qua xóm hành chánh. Những cây cầu nầy đều làm bằng sắt lót gỗ.
      Do càng ngày dòng sông càng ô nhiểm, nhiều rác rến nước không lưu thông được, các nhà thủy tạ tồn tại không đẹp mắt gì, nên khoảng sau năm 1960 thì dở bỏ. Tuy dòng sông đã cạn đi nhiều nhưng vẫn còn một số ít ghe thuyền cố vào chuyển hàng buôn bán. Năm 1956 tỉnh lỵ bị một cơn bảo lớn, cây cối ngã đổ rất nhiều, chính quyền sở tại lợi dụng tình thế nầy quyết định không cho ghe tàu vào đây nữa bằng cách bỏ nhiều gốc cây to xuống sông cầu Bon, vì thế nước nghẻn tắt không lưu thông, dòng sông càng ô nhiểm. Đến năm 1969 thì đoạn sông Cầu Bon từ bến xe đến Cầu giải phóng được lắp hẳn và giải tán luôn ba cây cầu nầy, còn lại cuối cùng là cầu Thuận hóa, một thời gian sau nầy người ta cũng lắp thêm đoạn sông kế tiếp và giải tán nốt cây cầu nầy
        Ngã qua cầu Thuận Hóa là ngã ba Nguyễn Du – Nguyễn Bĩnh Khiêm. Thuở nhỏ sống ở Sóc Trăng, con đường để lại trong tôi nhiều kỷ niệm nhất là con đường Nguyễn Bĩnh Khiêm hồi xưa gọi là Bải Xàu dưới, con đường có cô Vĩnh Trường ở ngôi nhà cổ, đáng kính đáng mến; con đường cùng đi học với Tài, Lực; con đường tôi quen cô bé H.Liên học sau tôi hai lớp, gặp nhau nhìn đỏ mặt; con đường có buổi hẹn hò đi chơi bằng xe đạp, cô bạn cùng lớp bị té để lại vết sẹo, tới giờ còn nghe xót trong lòng , con đường tôi thân thiết chị Ngân, luôn mặc áo dài săn tay áo, có máu anh chị; con đường tôi thân thiết chị Hạ thùy mị đoan trang. Con đường xưa giờ thay đổi rất nhiều, dấu vết cũ không còn, những người quen biền biệt nơi xa nào đó khó mà gặp. Có thể nói con đường nầy, người để lại trong tôi xúc cảm nhất thời tuổi nhỏ là chị Hạ.
      Nhà tôi ở cạnh nhà chị Hạ, cả nhà tôi bốn người, tôi và ba người anh bà con họ là anh Tín; anh Cáo; anh Ngoan, ba người nầy lớn hơn tôi chừng năm sáu tuổi, họ đều là lính. Anh Tín là lính hải quân, anh Cáo là lính không quân, anh Ngoan là lính bộ binh. Họ thường nói kích nhau về sắc lính, nhất là anh Tín luôn tự hào có nhiều cô gái thích vì anh luôn mặc đồ trắng sạch sẽ, anh Cáo thì sáng nào cũng vậy nguyên bộ đồ quân phục ủi hồ bén ngót đi tới đi lui nhìn ra đường cười khoe cái răng vàng với mấy em học trò áo trắng sáng đi học. Anh Tín đơn vị đóng ở xa lâu lâu mới về nhà một lần, anh thường dẫn tôi đi ăn uống và giới thiệu mấy người bạn gái của anh, kế bên nhà tôi thường chơi thân với chị Hạ, quê ở Ngã Năm, tôi và chị học cùng trường Hoàng Diệu, trên tôi hai lớp. Anh Tín thích chị Hạ, hai nhà cách ngăn bằng vách lá, anh Tín khoét lổ chọc chị Hạ, chị giận lắm. Có lần anh Tín viết một bức thư kêu tôi mang qua nhà chị Hạ, vừa đưa chị không coi mà xé nát và cấm tôi nếu có thơ thì đừng qua đây. Anh Tín không buồn gì, mỗi lần anh về nhà hai ba ngày thì đi, tôi không giúp cho anh Tín và chị Hạ quen nhau được, thời gian sau chiến tranh ác liệt, anh Tín đi biền biệt ít khi về nhà. Tôi suy nghĩ đơn giản chị Hạ xé thơ anh Tín có nghĩa là chị chỉ thích mình tôi. Mỗi sáng tôi và chị cùng đến trường, chị coi tôi như đứa em trai nhỏ, nhưng tôi thì không nghĩ vậy, mỗi lần chị huyên thuyên kể chuyện học hành, chuyện dưới quê, tôi không chăm chú lắm mà thẫn thờ nhìn khuôn mặt trái xoan, giọng nói dịu hiền và nụ cười thật phúc hậu của chị, hồi đó mới học đệ thất nhưng tôi đã có cái cảm giác kỳ lạ, rạo rực khi nhìn bộ ngực căng tròn của chị, có lần chị đứng sau lưng tôi hù một tiếng, bịt mắt và kéo tôi vào lòng, tôi có cảm giác tê dại mà không sao tả được. Năm sau gia đình chị có biến cố lớn, mẹ chị bệnh mất, rồi kế tiếp người em trai kế của chị là anh Quý đi lính tử trận, chị buồn lắm, tôi cũng chẳng biết an ủi được gì, mùa hè về quê, năm học mới đến, chị không còn ở kế bên nhà tôi nữa, mỗi sáng tôi và chị không còn cùng đi học trên con đường Nguyễn Bĩnh Khiêm, chắc có lẻ là chị nghĩ học, chị đi nói với tôi tiếng nào. Từ đó đến nay đã hơn 40 năm tôi không gặp lại chị, có điều kiện xuống Ngã Năm hỏi thăm nhiều người, người ta nói gia đình chị đã dời đi nơi khác từ lâu lắm rồi.

       Ai từng sống ở Sóc Trăng, chắc chắn sẽ có ít nhiều kỉ niệm về những con đường những dòng sông. Cuộc sống hối hả, tốc độ phát triển đô thị hóa như vũ bảo. Dấu vết của một thời trôi qua sẽ không còn. Những người từng cố cựu ở đây, già cổi chết lần mòn, hoặc theo con cháu tản mác ra đi nhiều nơi. Những lớp người mới do bối cảnh lịch sử đã đến đây dần dần trở thành dân Sóc Trăng. Nói như lời cụ Vương Hồng Sển những kẻ từng chôn nhau cắt rốn ở đây trở thanh kẻ tha phương, vì quay lại Sóc Trăng nhìn cái gì cũng lạ. Nhưng nói gì thì nói, dân Sóc Trăng thứ thiệt gặp nhau biết liền, cái điều đặc biệt nhất là vô số những câu chuyện kể hoài không chán, đó là những câu chuyện về những con đường, về những dòng sông....

                                                                                 Hoàng Minh 68 - 75
       .
                  



VĨNH CHÂU GIÓ MUỐI NẮNG HÈ


       Gió đồng lồng lộng, cái nắng gay gắt tháng tư như đổ lửa xối trên cánh đồng trơ rạ, vùng Tài Văn, Viên An, Viên Bình người ta đang cày phơi ải để chuẩn bị cho vụ mùa sắp tới, gió hắt hiu, mùi rơm rạ và khói đốt đồng xa xa tạo cho tôi nhớ không nguôi khoảng trời tuổi thơ xa tít cũng một vùng quê như thế này, cánh đồng hai bên vệ đường chỉ có nắng và gió. Chiếc xe do Hoàng lái lao nhanh nuốt hết đoạn đường trên 20 cấy số, bỏ laị hai hàng cây bên đường, cái ồn ào quá ư hồn nhiên của chín đứa bạn tuổi năm nhăm đột xuất rủ nhau đi chơi làm cho thời gian trôi nhanh quá, phút chốc ngoằn ngoèo đã đến nhà Thoại. Ba Thoại gặp kỳ này trông khỏe ra và vui hẳn lên, câu chào hỏi gia đình, chúc sức khỏe bằng hai thứ tiếng, uống ly cà phê chân tình của gia đình chụp vài bôi hình kỷ niệm từ giả gia đình tiếp tục lên xe đi tiếp. Ông tiển chúng tôi ra tận xe trông tình cảm và vui lắm.
     
     Ngang qua vùng tôm Mỏ Ó, vượt qua cầu Mỹ Thanh 2 đến địa phận Vĩnh Châu những vuông tôm kiền kề thuộc khu vực ứng dụng công nghệ cao trong tỉnh, xa xa cũng có những biệt thự của những ông chủ tôm lập nghiệp làm ăn ở đây, rất ít người nông dân địa phương trở thành ông chủ vuông tôm tầm cở, phần lớn các nhà đầu tư ở thành phố, nơi xa đến, người nông dân địa phương chân lấm tay bùn vẫn tiếp tục chân lấm tay bùn có chút đĩnh đất đai, vốn tích lủy nhiều năm từ nghề nông, cây lúa , phong trào nuôi tôm là bước đột phá làm giàu nhanh, họ đổ vốn vaò con tôm, theo nghề tôm, trúng được vài vụ, sau đó con tôm trở chứng ngốn hết số tiền vốn dành dụm, phóng lao phải theo lao, vay ngân hàng, cấm cố đủ thứ, trong nhà xưa kia có hàng trăm gịa lúa nay không có cháo mà ăn, cuối cùng rồi phải sang nhượng cho các ông chủ mới, tiếp tục cuộc đời làm thuê. Làm thuê tại quê nhà đủ ăn không khắm khá, bỏ xứ đi Bình dương, hoặc đi xuất khẩu lao động sang Malaysia, có người bỏ xác trên đất khách quê người. Rất nhiều những câu chuyện buồn về những người nông dân nuôi tôm, nghe qua lòng người không khỏi xốn xang.
     Vĩnh Châu vùng ven biển, gió nóng mùa hè mang theo nhiều muối, các cô gái da ngâm đen, mái tóc vàng hoe tự nhiên, gặp chúng tôi họ vẫn tươi cười, dù con tôm có thế nào đi nữa cũng không ảnh hưởng gì đến họ, duy chỉ những người từng sống chết với đất chỉ biết ngửa mặt lên trời than vản “tại sao đất lại phụ người”. Các nhà máy chế biến trong tỉnh đang thiếu nguyên liệu, mà hiện nay tôm đang chết hàng loạt trên vùng này, những cánh quạt ngừng quay vì không cần thiết nữa.

    Quay quắt chuyện nuôi tôm, xe chúng tôi ngang qua xã Vĩnh Hải, đây là một trong ba xã ven biển có diện tích trồng củ hành lớn nhất. Thời điểm này cũng là mùa thu mua của các doanh nghiệp chuyên doanh hành tím. Tùy theo thị trường tiêu thụ tại Nhật Bản hay Indonesia mà các doanh nghiệp này công bố số lượng thu mua và thỏa thuận giá với bà con. Kể ra trồng củ hành không giàu mau bằng nuôi tôm, nhưng được một việc là không vở nợ bỏ xứ mà đi.
      Đã đến giờ cơm trưa chúng tôi ghé vào một quán hải sản, món ăn ngon, rượu mang theo đem ra uống, vừa ăn, vừa có những trận cười của chín đứa ông ngoại bà ngoại ông nội bà nội rồi, mà ngỡ mình là học trò của bốn mươi năm về trước. Còn đoạn đường trên bốn mươi lăm cáy số mới về tới nhà, ghé quán bên vệ đường dùng ly nước mía ngọt lịm, mỗi người một niềm vui, mỗi người một tâm sự riêng, trong tôi nghe chan chứa đầy ắp một hương vị quê hương vừa đắng cay, vừa chan chát, vừa mặn nồng ….
                                                                                                                            Tháng 4- 2011
                                                                                                                                          LHM
Những bài đã đăng
  • Đua ghe Ngo ở Sóc Trăng
  • Về Cù Lao Dung 
  • Đình Thần Năm Ông   
  • Miền Nam Việt Nam 1949-1955https://sites.google.com/site/namkyluctinhorg/tac-gia-tac-pham/s-t-u-v/ttx-vanganh/chinh-the-quoc-gia-viet-nam                                                                 
                                      

Trở về Trang chủ