Bây giờ đã 40 năm ngày chúng tôi bước vào mái trường, 33 năm ngày rời mái trường, ngồi hồi tưởng lại viết về mái trường mình đã mài mòn đủng quần suốt 7 năm, mỗi người một kỷ niệm riêng, nhưng ai cũng nhớ như in cái mái trường mình đã học. Ngày đó , ngày khai trường niên khoá 1968 – 1969 chúng tôi được vinh dự bước vào trường Trung học công lập Hoàng Diệu, học lớp đệ thất sau khi đã trãi qua một kỳ thi tuyển loại nhiều đối thủ.Năm đó gồm có 7 lớp, chắc chừng 350 học sinh, những học sinh trúng tuyển vào trường thứ hạn từ 1 đến 20 được nhà trường cấp học bổng . Trong 7 lớp có 2 lớp học sinh ngữ chính Pháp văn là P1 và P2, lớp P1 là lớp nữ sinh lớp P2 là lớp nam sinh; 5 lớp học sinh ngữ chính là Anh văn gồm A1, A2 lớp nữ sinh và A3,A4, A5 là lớp nam sinh, Thế hệ nầy chúng tôi đa số sinh năm 1957, 1956, một số ít sinh năm 1955. Vào trường học tất cả phải mặc đồng phục, nam sinh áo bỏ vào quần, áo trắng cụt tay quần dài xanh dương mang giầy bata trắng, qui định thế nhưng nam sinh cũng mang nhiều loại giầy khác, còn nữ sinh thì mặc áo dài trắng quần màu trắng hoặc đen, không có qui định về giầy dép. Phù hiệu Trung học Hoàng diệu bằng vải thêu, thường thì nam may trên phía trái ngực; nữ may trên phía phải ngực.Đó là qui định từ lúc chúng tôi mới vào học đệ thất 1968, kể từ năm 1973,1974 phù hiệu được đổi thành dạng mê-ca ghi họ tên và lớp, học sinh buổi sáng phù hiệu màu đỏ, học sinh buổi chiều màu xanh. Có cả logo của Trường tròn bằng đồng tiền mang trên ngực.
xxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxxx
Trường đã được xây dựng đâu hồi năm 1949, với tên là Trường Trung học tỉnh lỵ Ba Xuyên nhưng đến ngày 01 tháng 10 năm 1957 được đổi tên là Trường Trung học công lập Khánh Hưng, cũng ngày này trường mới chính thức khai giảng khoá học đầu tiên tạm gọi là khóa 1. Đến ngày 06 tháng 10 năm 1961 trường chính thức mang tên Trung học Công lập Hoàng Diệu, như vậy thế hệ học sinh Hoàng Diệu niên khoá 1968 – 1975 là khóa thứ 12 của trường. Hồi mới vào học chúng tôi đã thấy cái cổng trường nằm ở trước dãy giữa đối diện với đường Nguyễn Du, cạnh bên là trường bán công Phụ huynh. Sau này năm 1970-1971 cổng trường được dời xê qua một bên đối diện với sân trường, có thiết kế đẹp hơn nhiều so với cái cổng cũ, , nhà trường cũng xây thêm hồ cá, trồng cây kiểng và xây trụ cột cờ ở giữa sân trường.
hhhhhhhhhhhhhhhhhhh2
Các dãy cũ đã xây dựng lâu đời là những dãy lợp ngói, la phong sườn gỗ chét vôi vữa : dãy dọc tính từ văn phòng chính đến phòng họp giáo viên đến các lớp học; dãy ngang là các lớp học; dãy dọc phía bên trạm biến điện là các lớp học đồng thời cũng là chổ ở của các giáo viên, các dãy nầy bố trí theo hình chữ U; dọc theo bên trong phía trái hàng rào cổng trường là dãy nhà để xe. Các dãy mới xây năm 1971 – 1972 là dãy phía bên ao lục bình và dãy giữa sân trường song song với dãy văn phòng. Các dãy nầy xây theo vật liệu mới bê tông cốt thép, mái lợp tôn. Chung quanh sân trường có nhiều cây còng lâu năm, tàn rộng tạo bóng mát,giữa sân trường có một sân cầu lông.
hhhhhhhhhhhhhhhhhhhhh3
Hệ thống giảng dạy Trường Trung học công lập Hoàng Diệu bao gồm hai bậc học : Trung học đệ nhất cấp từ lớp đệ thất cho đến lớp đệ tứ , các học sinh được phân chia theo sinh ngữ chọn lọc (Anh văn hoặc Pháp văn ) và Trung học đệ nhị cấp từ đệ tam đến đệ nhất, các học sinh được xếp lớp theo phân ban đã chọn (A,B,C,D) và bắt đầu học thêm sinh ngữ 2 .
Vào học, chúng tôi học ở các dãy trường lợp ngói, tên lớp được gọi lần lượt đệ thất rồi lên lớp đệ lục, lớp đệ ngũ. Trong năm lớp đệ lục, nhà trường đổi tên lớp gọi toàn trường từ đệ thất tới đệ nhất là lớp 6 tới lớp12. Sang năm lớp 10 ( 1973 ) chúng tôi được dời ra học dãy mới xây cạnh ao lục bình. Trong năm nầy nhà trường tiến hành phân ban : A ban Vạn vật; B ban Toán; C ban văn chương và học thêm sinh ngữ phụ. Các lớp được xếp lại căn cứ trên nguyện vọng đăng ký gồm 10A1; 10A2; 10A3; 10A4;10B1; 10B2; 10B3; 10B4 không có lớp ban C, , như vậy mỗi lớp bây giờ có cả nam sinh lẫn nữ sinh, lớp 10A1; 10A2 và 10B1 là lớp sinh ngữ chính Pháp văn còn lại là Anh văn. Trong những năm 1972; 1973; 1974; nhà trường tuyển những học sinh của các Trường tư thục có thành tích học tập giỏi hạnh kiểm tốt bổ sung thêm vào các lớp.Năm 1968 đến 1972 số lượng học sinh gồm 7 lớp ban đầu; năm 1973 đến 1974 gồm 8 lớp. Năm lớp 12 ( niên khoá 1974 – 1975 ) gồm 9 lớp, căn cứ quá trình học tập của 2 năm lớp 10 và lớp 11 của học sinh tại trường, nhà trường tiến hành chuyển nguyện vọng cho học sinh lần nữa. Niên khoá nầy các học sinh có nguyện vọng đi ban A thì nhiều, ban B thì ít, các lớp gồm: 6 lớp ban Vạn vật: 12A1;12A2 12A3;12A4 12A5;12A6 và 3 lớp ban toán: 12B1; 12B2; 12B3. Trong đó lớp 12A4,12A5; 12A6 và 12B3 là lớp sinh ngữ chính Pháp văn còn lại là Anh văn
Không khí chiến tranh của những năm nầy càng ngày càng sôi động, những nam sinh, sinh năm 1955 bắt buộc phải rời trường theo lệnh tổng động viên, những nam sinh, sinh năm 1956 phải tiếp tục lên đường nhập ngữ nếu không đậu kỳ thi tú tài 1975. Do đó để đối phó thời cuộc một số nam sinh, sinh năm 1956 rời trường sang học nhảy lớp ở các trường tư thục. Tư tưởng học sinh phân hóa thành nhiều luồng: Một số tích cực con đường học tập bằng mọi giá đạt kỳ thi tú tài để khỏi đi lính; một số bất mãn thời cuộc bỏ bê học tập, một số tham gia các các phong trào phản chiến hình thành các bút nhóm thi văn đàn, nhóm văn nghệ phổ biến thơ ca tuyên truyền những ca khúc phản đối chiến tranh; một số tham gia cách mạng hoạt động bằng con đường bí mật.
Kỳ thi tú tài 1975 ban đầu dự kiến thi trắc nghiệm nhưng được bải bỏ chuyển sang thi viết từ trước kỳ thi đệ nhất lục cá nguyệt. Sau 30 tháng tư nhà trường phổ biến cho học sinh biết các môn thi và tổ chưc ôn tập. Ban Vạn vật thi 3 môn gồm: Vạn vật; Việt văn; ngoại ngữ. Ban toán thi môn gồm: Toán; Việt văn và ngoại ngữ. Do môn Việt văn đề thi sẽ tập trung vào phần văn học cách mạng cận đại tạo nhiều bở ngỡ cho học sinh. Cũng trong thời gian nầy ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình xã hội, hoàn cảnh đa số học sinh càng có những xáo trộn lớn, một số lớn bỏ học bỏ thi bước vào đời sớm cùng gia đình bươn trãi cuộc sống. Kỳ thi tú tài được tổ chức vào ngày 20/09/1975, tính cả tổng số học sinh 9 lớp thì một số lớn bỏ thi, tỉ lệ đạt kỳ thi nầy tính cả học sinh trong toàn trường khoảng 30%. Vào năm nầy bằng cấp không gọi là bằng tú tài nữa mà gọi là bằng tốt nghiệp phổ thông. Bằng cấp được làm bằng giấy màu trắng khổ ( 210 x 135 ) cm, tên bằng in chử lớn màu đỏ “Bằng tốt nghiệp phổ thông” do thứ trưởng Bộ Giáo dục và Thanh niên Lê văn Chí ký. Sau ngày thi mỗi học sinh có những định hướng, hướng đi riêng, cuộc sống khắc nghiệt, giao thông; thông tin liên lạc khó khăn, kể từ thời điểm nầy chúng tôi ít có dịp gặp lại nhau.
hhhhhhhhhhhhhh4
Hồi mới vào học Thầy Phan Ngọc Răng là hiệu trưởng đến năm 1970 thì thầy chuyển về Sài Gòn, thời gian nầy Thầy Lê Kim Tiết Tháo làm Tổng giám thị. Sau đó 1970 Thầy Lê Xuân Vịnh làm hiệu trưởng đến năm 1973 thì Thầy Lâm Cộng Hưởng lên thay, trong thời gian 1972 đến 1975 Thầy Lê Vĩnh Tráng làm Tổng giám thị.
Thầy cô học trong 7 năm học gồm:
-Việt văn : Cô Hằng , Cô Hoàng Oanh, thầy Lê vĩnh Tráng , cô Phan thị Tươi, Thầy Nguyễn Hiền Tâm, Phạm Thị Lê, thầy Phan quang An, thầy Phạm văn Phái , thầy Lê xuân Vịnh, Thầy Nguyễn Tư Thiếp
- Triết: Phan quang An, Trần Phạm Hiếu, Nguyễn Tư Thiếp
-Công dân : Thầy Đổ NhưThắng , thầy Nguyễn văn Phú , thầy Khoa , cô Quách kim Hoa
-Anh văn : Cô Tín , thầy Hương , Ngô trọng Bình, thầy Quách Lý , cô Dương Quí Lang , thầy Hoàng Việt Sơn, Trần văn Hạnh, Trần Kiều Sanh. Năm 1972 nhà trường có mời một số quân nhân người Mỹ vào dạy môn Anh văn trong thời gian rất ngắn để tạo điều kiện cho học sinh tiếp xúc với giọng nói bản ngữ
-Pháp văn :Cô Nguyễn phương Yến , thầy Nguyễn Ngọc Điệp, Thầy Mai hữu Chấn, cô Nguyễn thị KimDung
- Sử địa : Cô Sương, thầy Khoa , Thầy Trần Phước thầy Liêu Khên, thầy Lê công Hoàng , Thầy Mai hữu Kiêm..
-Toán : Cô Lê thị Vĩnh Trường, Thầy Lâm Huôl , thầy Nguyễn văn Phú , thầy Lý Ngọc Hiếu , thầy Phan văn Nhiều , thầy Trần Lộc, thầy Phạm xuân Dũng, Thầy Lâm Cộng Hưởng, Thầy Lê Khắc Thạnh.
-Lý hóa : Cô Hoa , thầy Bảy , cô Mười , cô Ngọc ,Thầy Lợi minh Hà, thầy Huỳnh vĩnh Trung , thầy Nguyễn văn Thuận, Thầy Đào Ngọc Minh, Thầy Nguyễn Công Thừa,Thầy Nguyễn Ngọc Lân
-Vạn vật : ThầyTrần thanh Thu , Cô Na, Cô Mai Thị Vân, thầy Cấn phan Nhiếp , thầy Trần văn Lành , thầy Điền Chi,
-Âm nhạc : thầy Võ Văn Thiên
-Hội họa : Thầy Phạm văn Thế
- Nữ công: Cô Lý thị Chất
-Giám thị : Thầy Ký , thầy Phương , thầy Tháo , cô Hội , cô Đại ...
Ngoài ra còn các thầy cô:
Thầy Nguyễn văn Tòng ( Việt Văn). Thầy Phạm quang Hưng (Lý hoá), Thầy Nguyễn Khắc Hưng; Nguyễn Thái Lan; Hoàng Đình Diệp (Pháp văn). Thầy Trần quốc Lương; Nguyễn Trọng Thắng; Lê Ngọc Hiển (Toán); Cô Vũ thị Thu (Sử Địa); Thầy Ngô Tự Đức (Thể dục);
(Tham gia lục lọi từ các bộ nhớ: Hoàng Minh, Quốc Lực, Hồng Nhan, Thu Hương, Lệ Toàn, Phạm hùng Kiệt)

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét