Người Việt ta vốn có truyền thống “Tôn Sư Trọng Đạo”. Tôi sinh ra và lớn lên trong một gia-đình với Ông Nội tôi vốn là một người viết chữ Nho khá đẹp va cha tôi nguyên là một cựu Hiệu Trưởng trường Tiểu Học từ thập niên năm mươi của thế kỷ trước. Có thể do hoàn cảnh trên nên dù đang phải sống phiêu bạt khắp năm châu bốn biển, anh em chúng tôi vẫn nhắc nhở nhau cố gắng trân quý truyền thống trên đây của nước nhà.
Nhân ngày lễ kỷ niệm 50 năm ngày thành lập Trường Trung Học Hoàng Diệu, nơi tôi và người em trai hiện đang sống ở Paris đã trải qua những tháng năm êm đềm của thời vàng son Trung Học, chúng tôi đã được những người bạn đồng môn quý báu như Nguyễn Đình Lân, Lê Thị Lụa, Hồ Quốc Lực, và Lý Hoàng Minh gởi cho những đoạn video clip và hình ảnh chụp trong buổi lễ cùng với những bài tường thuật rất sống động về ngày lễ kỷ niệm đã được tổ chức long trọng hôm tháng mười tại trường Hoàng Diệu.
Vào ngày Lễ Tạ Ơn, tôi đã cùng gia-đình mở phim ra xem sau khi được chị bạn vàng Nguyễn Hồng Nhan chuyển tới địa chỉ Email tại nhà. Xin cám ơn bạn Hồng Nhan đã giúp các con của chúng tôi có cơ hội nhìn thấy tận mắt hình ảnh trường cũ người xưa của Bố các cháu.
Khi đoạn phim mới được mở lên, lòng tôi đã cảm thấy thật bùi ngùi lúc nhìn thấy hàng chữ TIÊN HỌC LỄ - HẬU HỌC VĂN đã được kẽ bằng chữ lớn tại ngôi trường xưa của tôi trong phim. Câu thành ngữ này, lúc tôi mới chuyển từ trường Phan Thanh Giản về học tại trường Hoàng Diệu khi Thầy Phan Ngọc Răng đang làm Hiệu Trưởng, tôi đã nhìn thấy được treo ngay trước cửa lớp 7P2 của tôi tại dãy hành lang dẫn lên Phòng Giáo Sư của trường. Nếu cứ theo suy nghĩ của Cụ Trọng Nghĩa: “LỄ NGHĨA LIÊM SĨ CÒN, VIỆT NAM CÒN -- LỄ NGHĨA LIÊM SĨ MẤT, VIỆT NAM MẤT”, thì tôi luôn tự hào đã xuất thân từ một mái trường luôn đặt vấn đề giáo dục về LỄ NGHĨA làm trọng tâm trong quá trình dạy dỗ học sinh của trường.
Khi tiếp tục xem phim, tôi đã xúc động đến rơi lệ vì ngoài hình ảnh của Thầy Lâm Ngọc Linh và Cô Mười dạy Lý-Hóa, và Cô Lê dạy Việt-Văn, mà bạn bè chúng tôi đã từng đưa lên mạng sau những lần họp mặt bên Cali, thì đã hơn ba thập niên rồi tôi mới nhìn lại được những hình ảnh mới nhất của hầu hết các vị cựu giáo sư của chúng tôi. Chính những vị giáo sư này là những người đã khổ công truyền đạt cho nhiều thế hệ học sinh Hoàng Diệu chúng tôi những kiến thức phổ thông căn bản từ môn toán, khoa học thực nghiệm, văn chương, đến sinh ngữ Anh và Pháp, những ngôn ngữ mà hiện nay chúng tôi, những người lưu lạc tha phương, phải sử dụng hàng ngày cho nhu cầu mưu sinh của gia-đình.
Những hình ảnh của ngày lễ kỷ niệm giúp tôi hồi tưởng những khuôn mặt xưa cũ của các Thầy Cô. Thầy Lê Xuân Vịnh, vị cựu Hiệu Trưởng khả kính của chúng tôi năm nào mà giờ này tôi vẫn còn giữ được tấm thẻ học sinh do chính Thầy ký tên và đóng dấu, vẫn còn giữ được nguyên vẹn nét đạo mạo và uy nghiêm ngày nào trên gương mặt Thầy. Cô Dung, người đã dạy tôi chia từng “Temp”, “mode” của tất cả các động từ trong Pháp ngữ, tóc đã hớt ngắn hơn nhưng Cô vẫn còn phảng phất nét quý phái của một Madame dạy tiếng Tây ngày nào. Thầy Lê Kim Tiết Tháo dạy tôi môn Việt Văn, và tôi nhớ có một lần Thầy đã cho chúng tôi học một bài ca dao bất hủ là bài “Đêm Buồn”. Hơn 36 năm đã trôi qua nhưng tôi vẫn còn thuộc bài ca dao này:
Đêm qua ra đứng bờ ao,
Trông cá cá lặn, trông sao sao mờ.
Buồn trông con nhện giăng tơ,
Nhện ơi, nhện hỡi, nhện chờ mối ai?
Buồn trông chênh chếch sao mai,
Sao ơi, sao hỡi, nhớ ai sao mờ?
Đêm đêm tưởng dãy ngân hà,
Đến nay ngăn cách đã ba năm tròn.
Đá mòn nhưng dạ chẳng mòn,
Ngàn năm ngăn cách vẫn còn trơ trơ.
Ở vào lứa tuổi “teenager” học lớp Chín, tôi nào đã hiểu hết ý nghĩa thâm sâu của kho tàng văn chương truyền khẩu Việt Nam. Mãi cho đến rất lâu sau này, khi đã chứng kiến tận mắt thím Sáu và mợ Út của tôi đã trải qua những tháng năm dài mòn mỏi chờ đợi người chồng ra đi không phải là một tháng mà là gấp đôi của “ba năm” mà vẫn chưa có ngày về, lúc ấy tôi mới thấm thía được là Thầy của chúng tôi đã dạy cho chúng tôi một bài ca dao thật tuyệt vời nói về lòng hy sinh, chung thủy vô bờ bến của những người vợ và người mẹ hiền Việt Nam.
Thầy Cấn Phan Nhiếp, Thầy Nhiều, Thầy Hưởng, Thầy Sơn, Thầy Hạnh, và Thầy Tráng yêu quý của tôi giờ đây tóc đã bạc màu và “thưa thớt” hơn xưa rất nhiều. Nhờ những kiến thức Toán học từ quý Thầy Lê Khắc Thạnh, Thầy Lý Ngọc Hiếu, Thầy Phan Văn Nhiều, Thầy Lâm Cộng Hưởng, Thầy Phạm Xuân Dũng, Thầy Nguyễn Bình (sau đổi về Trường Trung Học Miền Nam tại Sài Gòn), Thầy Nguyễn Trọng Thắng, và Thầy Nguyễn Văn Phú (Thầy hay nói “Cho tôi một vì sao” mỗi khi Thầy đọc cho học trò viết dấu hoa-thị) truyền đạt cho chúng tôi mà đã có biết bao thế hệ học sinh Hoàng Diệu đã trở thành những kỹ sư, tiến sĩ, thạc sĩ trong các ngành khoa học trong và ngoài nước. Tiếc là ngoài hai Thầy Toán, Thầy Nhiều và Thầy Hưởng, chúng tôi không có cơ hội ngắm lại hình vóc của các Thầy còn lại trong Lễ Kỷ Niệm 50 năm này.
Nhắc đến các Thầy Cô dạy Anh Văn, ngoài Thầy Sơn với tiếng tăm gắn liền Thầy với trường Đồng-Tiến và Cha sở phụ trách ở đó trong những ngày "xưng tội", chúng tôi không sao quên được Cô Dương Quý Lan với dáng vóc và lời nói dịu hiền như một từ mẫu. Nhưng than ôi… dòng thời gian đã khiến xui thằng học trò nhỏ ngày xưa nhìn Cô một cách xa lạ. Nếu không có các bạn cũ nhắc nhở… ôi, đắc tội muôn phần.
Thầy Thuận nhìn “có da có thịt” hơn ngày xưa rất nhiều. Không biết giờ này với nắng và gió biển của quê hương “xứ Gòi” (Huyện Long-Phú) của Thầy, làn da của Thầy có “trắng trẻo” hơn thuở Thầy phải chạy xe Honda 67 màu đen để đi dạy tại Hoàng Diệu năm nào không? Đã hơn ba mươi năm rồi nên chắc Thầy chẳng còn nhớ ra nỗi người học trò Trưởng lớp mười một do Thầy làm giáo sư hướng dẫn vào niên khóa 73-74 đâu.
Thầy Lê Vĩnh Tráng năm xửa năm xưa đâu có mang kiếng. Thế nhưng nhìn hình ảnh Thầy với cặp “mục kỉnh”, lũ học trò vẫn nhận ra Thầy – dù ở tận phương Tây – vi trông Thầy vẫn còn rất phong độ và dễ thương như ngày nào. Chỉ tiếc là không nghe lại được giọng nói ôn tồn và chậm rãi gần như “năn nỉ” học trò của Thầy.
Thầy Thiên, dạy Nhạc, mà hình như hiện nay Thầy là người cao niên nhất trong số các Thầy Cô có mặt trong phim mà vẫn còn đeo được cặp kiếng đen, khiến tôi cảm nhận là Thầy còn phong độ như ngày nào Thầy còn đang bắt nhịp cho chúng tôi hát HỌC SINH LÀ NGƯỜI TỔ QUỐC MONG CHO MAI SAU…
Nhìn hình ảnh Thầy Thiên tôi bỗng bùi ngùi nhớ đến Thầy Thế dạy vẽ, với hình ảnh Thầy cùng chiếc ống vố “tỗ chảng” mà học sinh Hoàng Diệu của thời ấy sẽ chẳng bao giờ quên. Điều rất buồn là Thầy đã ra đi quá sớm nên trong số học sinh HD68-75 không ai có được tấm ảnh của Thầy để lưu niệm.
Nhìn lại hình ảnh của quý Thầy Cô trường Hoàng Diệu, tôi muốn viết lại vài hàng như một nén hương lòng để tưởng nhớ tới hai vị giáo sư ân nhân của tôi giờ này đã không còn ở trên thế giới này nữa. Hai vị giáo sư đó là cố Giáo Sư Triết và Pháp Văn Trần Phạm Hiếu và cố Giáo Sư Anh Văn Trần Thị Tín. Thầy Hiếu ơi! Những bài Triết Học và Pháp Văn mà Thầy đã dạy cho em năm nào đã giúp em luôn tiếp tục đứng vững trên đôi chân nhiều khi muốn ngã quỵ trong cảnh đời lưu vong, lầm than đầy khổ luỵ. Em còn nhớ mãi câu nói trích dẫn mà Thầy rất đắc ý: “Là con người không ai có thể tắm hai lần trên cùng một dòng sông” (Heraclite). Tuy nhiên, em đã không thể nào quên được dòng sông “Sóc Trăng” xưa vì rất có thể là do “Dòng sông xưa luôn chở đầy nhung nhớ” chăng? Những kiến thức Triết Học va những giờ Pháp Văn em đã học rất tới nơi tới chốn do Thầy dạy đã giúp em học những môn khoa học Nhân Văn cũng như những sinh ngữ phụ Anh Văn và Y Pha Nho thật dễ dàng. Em luôn nhớ ơn Thầy mặc dù em sẽ chẳng bao giờ có thể gặp lại Thầy được nữa.
Cô Tín ơi! Mặc dù Cô thương yêu quý mến em hơn nhiều bạn khác của trường Hoàng Diệu rất nhiều vì em chưa bao giờ bị Cô cú đầu hoặc nhéo tai như các bạn khác, nhưng nhắc đến tên Cô là các bạn thảy đều bồi hồi thương nhớ đến một vị Giáo Sư tài hoa bạc mệnh. Nếu không có Cô nghiêm khắc, sửa cho em từng lỗi văn phạm cũng như “điều chỉnh” thật kỹ lối phát âm của “một thằng Mỹ ngọng nghệu” của em thì giờ này một tên học trò tiếng Pháp là sinh ngữ chính làm sao có được đất dụng võ ở xứ cờ Hoa này được.
Em luôn nhớ lời của Cô nhấn mạnh rất nhiều lần trong suốt thời gian Cô còn dạy chúng em: “Kiến thức phổ thông, ngay cả kiến thức Anh Văn, là cái các em đang cố học và sẽ chỉ còn giữ lại được MỘT ÍT sau khi đã quên đi hầu hết tất cả. Và sau này, khi các em bước vào đời, các em có vươn lên được hay không là do cái MỘT ÍT này.”
Thuở xa xưa ấy, lũ chúng em có mấy ai chịu nghe lời Cô đâu! Thậm chí khi thấy Cô tới lớp trễ vài phút (vì năm nào Cô cũng mang “ba lô” đi dạy, thì làm sao đi dạy đúng giờ được), lớp của em rủ nhau nhảy cửa sổ trốn học hết. Cô đã nổi giận phê vào sổ đầu bài: “Giáo sư tới lớp, học sinh đã ra về.” Em là trưởng lớp phải đứng mũi chịu sào năn nỉ Cô và Cô đã thêm vào: “Đi đám ma của một phụ huynh của lớp.” Chúng em hú hồn. Tí nữa thì tan xác với Thầy Hiệu Trưởng Lê Xuân Vịnh.
Nay Cô đã không còn nữa cho nên muốn tìm Cô để nói lời tạ ơn Cô đã giúp em có MỘT ÍT tiếng Anh va nhất là đã một lần Cô cứu chúng em thì đã quá muộn màng. Không còn dịp nữa rồi.
NHẤT TỰ VI SƯ, BÁN TỰ VI SƯ. Cựu học sinh Trung Học Công Lập Hoàng Diệu luôn chân thành tri ân tất cả quý Thầy Cô.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét